길이는 14cm, 25cm, 5cm는 12cm입니다. Nó có hình dạng elip dài với các nếp nhăn ở cạnh. Phần trên có màu nâu 및 phần dùới có màu xanh. Rong biển bắt đầu đuợc nhìn thấy từ khoảng tháng 10, phát triển trong suốt mùa đông đến mùa xuân và không mọc khi thời tiết ấm lên.
Ban đầu, họ tách rễ của rong biển bám vào các rạn san hô và ăn chúng.
Lâu dần, ngùời dân thu hoạch rong biển bằng cách chèn cây củi xuống nuac. Họ sử dụng cây tre, ghim chúng xuống biển và cố định chúng.
1960년에, 우리는 1960년부터 2009년까지의 시간과 그 이후의 일을 시작했습니다. 당신은 당신의 생각을 알고 있습니다.
Trong các trang trại nằm ở thị trấn ven biển, rong biển đuợc geo tròc và sau lễ 추석(trung thu), họ đặt rong biển cùng một lúc xuống biể 엔. Rong biển có thể thu hoạch sau một tháng geo 및 thu hoạch 7 ~ 8 lần cho đến tháng 4 năm sau.
Rong biển sau khi thu hoạch đuợc rửa bằng nuớc sạch, tái nhỏ, cho vào xô nuac. 당신이 당신의 생각을 이해하는 데 도움이 될 것입니다. Nâng lên cao để nó không quá dày hoặc quá mỏng, sau đó sấy ở noi khô ráo.
Mặt khác, rất nhiều các tạp chất bị vuớng vào rong biển khi thủy triều xuống. 당신은 clohydric vào và xử lý를 두려워하지 않습니다. 아니, 아니요, axit clohydric 또는 axit hợp pháp과 더 많은 axit hữu còc를 생각해 보세요. Ngoài ra, viec loại bỏ tạp chất mà không cần sử dụng axit clohydric hay xử lý axit hữu cô chủ yếu đuợc sản xuất tại 전라남도 장흥군 .
롱 비엔 ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, rong biển đuợc gọi là Nori (tiếng Nhật : 海)
Không giống nhù Hàn Quốc, rong biển đuợc gói trong côm, ăn nhù một món ăn phụ hoặc cuộn thành kimbap. 물론, 당신이 원하는 것을 선택하고, 당신이 원하는 것을 선택하세요. Khoảng 60% rong biển đuợc tiêu thụ trong món côm cuộn tam giác, bữa trua và
rong biển cuốn 초밥 . Thêm vào đó, nó đuợc gọi là furikake, rong biển đuợc trộn với kim chi, các gia vị khác và rắc lên còm.
도움말: https://ko.wikipedia.org/wiki
Dịch bởi: 떡볶이