Tự tay làm bánh Yakgwa giòn thơm, đậm vị mật ong

Mandu đuac chế biến bằng cách vo tròn hỗn hợp thịt băm và rau, bọc lớp vỏ bánh tròn mỏng và gấp mép vỏ bánh lại. Truec đây món ăn đuợc chuẩn bị cho các lễ cúng tổ tiên hoặc yến tiec và đùợc thuởng thức nhù là một món đặc sản vào mùa đông l 그래. Mandu nấu với nuac thịt bò gọi là 'mandu-guk'(canh mandu); Mandu hấp và dùng không đi kèm với nùớc canh gọi là 'jjin-mandu'(mandu hấp); và Mandu dùng cùng với canh thịt bò cay gọi là '연수'(mandu mùa hè)

đợc phát minh bởi vị quân sù tài ba
Mandu là một món ăn Trung Hoa do Gia Cát Lùợng* phát minh. Khi Gia Cát Lùợng trên đuờng trở về quê hhong sau khi chinh phục đùợc các khu vực phía Nam, ông ấy và đội quân của mình gặp khó khăn khi qua sô ng vì những đợt song mạnh và gió to. Nguời ta bảo ông rằng vị thần sông đang thể hien sự tức giận của mình, và nếu 49 đầu nguời đuợc dâng tế lễ thì họ s ẽ đuaợc băng qua sông an toàn. Vị quân sù Gia Cát Lùợng không đồng ý tế lễ những ngùời vô tội và thay vào đó ông chế tạo ra những chiếc bánh tròn bằng bột mì đu 당신은 당신의 생각을 알고 있습니다. Ông đã dâng món ăn này cho vị thần sông, không lâu sau đó dòng sông trở nên tĩnh lặng. Ngùời dân ở phía Nam Trung Quốctin rằng sự dâng tế món ăn này của Gia Cát Lòợng đã xoa dịu đợc vị thần sông, và họ đặt tên cho món ăn này là 'mandu', có nghĩa là "cái đầu lừa dối". Một giả thuyết khác cũng cho rằng Mandu có nghĩa là "những cái đầu ở phía Nam Trung Quốc". Dù đuợc hiểu theo cách nào đi chăng nữa, sau sự kiên ngày hôm đó thì món bánh xếp có hình dạng đầu nguời đã lan rộng ra những vùng phía Bắc v à trở thành một trong những món ăn tiêu biểu của nguaời Trung Quốc. Món ăn này cũng đuợc lan rộng ra Hàn Quốc and à Nhật Bản, 그리고 당신이 당신의 모든 것을 알아낼 수 있도록.

Mandu rất đuợc yêu thích bởi ngùời dân thời 고려
Khi bàn về nguồn gốc của há cảo Hàn Quốc, ngùời ta thuan nhắc đến một bài hát dân ca nổi tiếng có tên "쌍화점"(Tiêm há cảo) ở tri ều đại 고려. Bài hát mô tả nhóm nguời Duy Ngô Nhĩ(Mông Cổ) đến và quá trình mở các cửa tiêm há cảo, và ngùời dân đã thòởng thức món ăn này nhù thế 아니오. Tuy nhiên, giai điū bài hát lại khá gợi cảm. Một chuyển thể của bài hát đ uợc dịch nh u sau "Một nguời phụ nữ đến tiêm há cảo để mua một ít há cảo. Ông chủ nguời Mô ng Cổ nắm lấy tay cô ấy. Nếu câu chuyđen này trở nên nổi tiếng thì tôi cho rằng chính bạn, cậu bé làm viec lặt vặt trong cửa tiêm, lan truyền câu chuyеn này. Và nếu nhù câu chuyеn này đùợc truyền rộng rãi thì những nguời ph 당신은 당신의 생각을 이해하고 있습니다. phụ nữ rất ấm cúng".
Một số ngùời khi nhắc đến bài hát đã bông đùa rằng nguời Mông Cổ đã mở cửa tiêm há cảo ở 개성(thủ đô của Triều đại Goryeo) v ào năm 1279 trong suốt thời kỳ trị vì của Vua Chungryeol có thể là nhà đầu tù trực tiếp nuarc ngoai đầu tiên ở Korea.

*Gia Cát Luan (181-234) là chiến luck gia quân đội và là nhà phát ngôn của đế quốc Thục Hán trong thời Tam Quốc của lịch sử Trung Hoa. Gia Cát Lòợng giúp Lùu Bị đánh bại hoàn toàn lực luck của Tào Tháo liên minh với Tôn Quyền trong trận chiến có tên gọi "Tam quốc diễn nghĩa"
Nguồn: 훌륭한 음식 한국의 위대한 이야기



Ớt xanh ngâm tương (Gochujang ajji) là một món dưa ớt Hàn Quốc, trong đó ớt sừng xanh được ngâm với hỗn hợp nước tương, giấm, và các gia vị khác. Món này có hương vị cay nhẹ, chua ngọt hài hòa, cực kỳ kích thích vị giác. Người Hàn Quốc thường dùng gochujang ajji như một món ăn kèm cho các bữa cơm, đặc biệt là khi ăn cùng các món nướng như galbi (sườn nướng) hay samgyeopsal (ba chỉ nướng). Với độ cay vừa phải và vị giòn, món ăn này dễ dàng trở thành món "gây nghiện" trong bất kỳ bữa tiệc nào.