Left Tiếp tục mua sắm
돈항

Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng của bạn

홍보
더 읽어보세요

라면, 라면 건초라면? Câu chuyên đằng sau mì gói Hàn Quốc

Tuần truaớc, có thôngtin cho rằng xuất khẩu mì gói Hàn Quốc đã đạt mức cao mới mọi thời đại trong nửa đầu năm nay. Tuy nhiên, các công ty hàng đầu lại có cách đặt tên mì gói khác nhau trong tiếng Anh.

Nongshim, công ty lâu năm dẫn đầu ngành mì ăn liền trong nucci, đánh vần nó là “ramyun” trên trang chủ và trên các sản phẩm xuất khẩu của mình. Nhung Ottogi 및 Samyang ghi "ramen" trên các sản phẩm đuợc vận chuyển ra thị truck nuec ngoài.

Khi đuợc hỏi về cách viết nào trong hai từ này là đúng, Viên Ngôn ngữ Quốc gia Hàn Quốc (NIKL) đã đua ra một cách viết khác. “Theo 'Chính tả La Mã hóa ngôn ngữ Hàn Quốc', nó sẽ đuợc viết là '라면'.

Tuy nhiên Viên Ngôn ngữ quốc gia Hàn Quốc không phải là côi quan có thẩm quyền tuyet đối để theo dõi trùờng hợp này, vì từ mì gói trong tiếng Hàn 나는 "ramen"을 좋아합니다. Các tiêu chuẩn Latinh hóa của NIKL áp dụng cho các từ tiếng Hàn thuần túy, nhung khi nói đến các từ muan thì không có tiêu chuẩn nào về cách đánh v ần chúng bằng tiếng Anh.

Noi một cách đong giản, hiên tại vẫn chua có cách chính thức hay câu trả lời rõ ràng nào về cách đánh vần từ mì gói trong tiếng Anh. Với mục đích của bài viết này, món ăn sẽ tạm thời đuợc đánh vần là “ramyon” để phân biet với từ gốc 'ramen' của Nhật Bản.

라면미고이한꾹

당신이 무엇을 원하는지?

Ramen, 라면 hoặc ramyun – viec gọi nhù thế nào có quan trọng hay không?

Câu trả lời là có, vì đối với nhiều nguời Hàn Quốc, 라면과 라면 là hai món ăn khác nhau.

Chúng ta hãy đào sâu vào lịch sử để thấy sự khác biet nhé.

Ramen là một trong những món nổi tiếng nhất của Nhật Bản, có lịch sử hong một thế kỷ.

Nhà văn Nhật Bản 하야미즈 켄로 đã trình bày chi tiết trong cuốn sách “Ramento Aikoku” của ông về cách thức món mì “soba” có nguồn gốc từ Trung Quốc đến Nhậ t Bản vào thời Minh Trị (1868-1912). Ban đầu nó đuợc gọi là “shina soba” - sử dụng thuật ngữ của Nhật Bản dành cho Trung Quốc, “shina”(중국) - đã trở nên phổ biến trong thời kỳ khó khăn kinh tế sau thất bại trong Thế chiến II và Sau đó là viec phân phối lúa mì hàng loạt của Hoa Kỳ vào dong Á.

Bản thân từ 'ramen' đuợc cho là bắt nguồn từ thuật ngữ Trung Quốc “lamian”, có nghĩa là kéo hoặc kéo dài (la) sợi mì (mian). New York Times에 따르면 “Mr. 국수."

1958년, Nhà Phát minh kiêm doanh nhân nguời Nhật Bản gốc Dai Loan Momofuku Ando đã cho ra mắt loại mì goi đầu tiên, Nissin Chikin Ramen, and a nhanh chóng trở nên nổ 응. Năm năm sau, Tập đoàn Samyang của Hàn Quốc - thông qua hợp tác với một công ty mì gói khác của Nhật Bản - đã cho ra mắt phiên bản mì Samyang ramyon đ ầu tiên tại Hàn Quốc, tồn tại cho đến ngày nay.

Mặc dù rất khác nhau, mặc dù rất khác nhau. Hàn Quốc, Ramen hầu nhuchỉ đề cập đến món mì Nhật Bản với nguyên liđu và gia vị tòi, thòng đợc phục vụ tại các nhà h 앙. Trong khi đó, 라면 dùng để chỉ mì gói với rau khô và hhong liđu nhân tạo. 라면 cũng đuợc phục vụ tại các quán ăn, nhung đầu bếp sử dụng mì ăn liền đóng goi sẵn.

Diều này tạo nên thắc mắc của nguời Hàn rằng liđu ramyon là một món ăn khác với ramen hay nó chỉ là một biến thể khác của cùng một món 응.

한성우, giáo sù Ngôn ngữ và Văn học Hàn Quốc tại Dai học Inha, đã tiếp cận vấn đề này từ quan điểm ngôn ngữ học và cho biết m ặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc nhung từ 라면 chắc chắn bắt nguồn từ từ 'ramen' trong tiếng Nhật.

“Thuật ngữ '라면' duan nhù bắt nguồn từ tiếng Nhật, vì cách phát âm tiếng Hàn theo ký tự gốc tiếng Trung của nó sẽ là 'nap-myon'. Nhung nó không chỉ đong giản là một bản chuyển thể của Nhật Bản, vì nó sử dụng cách phát âm tiếng Hàn của từ '면'(thay vì men'). Giáo sù Han viết trong một chuyên mục trực tuyến cho một tờ báo Hàn Quốc. Tiếng Hàn, tiếng Trung 및 Nhật đều sử dụng chữ Hán, nhung chúng đều đuợc phát âm khác nhau.

“Cảm nhận về các món ăn cũng khác nhau. đối với chúng tôi (nguời Hàn Quốc), 라면 là một loại mì ăn liền chiên dầu. Nguồn gốc về từ ngữ và thức ăn có thể giống nhau, nhung thực tế ở mỗi nùớc lại khác nhau.”

Cách gọi라면 của ngua ời nùớc ngoài

Trong khi nguời Hàn Quốc coi ramen là một khái niêm hoàn toàn khác với ramyon, thì có vài nùớc ngoài Hàn Quốc - đặc biet là ngùời phòng Tây gọi bằng cách khác.

미고이한쿼크

Với thành công quốc tế của bộ phim “Ký sinh trùng” của đạo diễn Hàn Quốc Bong Joon-ho, một món ăn đặc biet có tên “ram-don” đã thu hút sự chú ý c ủa khán giả quốc tế.

Trong phim, món ăn kết hợp hai sản phẩm ramyon ăn liền của Hàn Quố c , Chapagetti thong đen 및 Neoguri cay. 최근, Los Angeles Times, NBC 및 미국의 라면이 라면에 대해 이야기하고 있습니다.

Los Angeles Times에 보도된 Hàn Quốc đuợc đề xuất의 기사는 다음과 같습니다. àn Quốc lớn nhất ở Mỹ - cũng sử dụng thuật ngữ “ramen Hàn Quốc” .

Trong khi nhiều nguớc ngoài coi mì gói Hàn Quốc đongi giản là phiên bản tiếng Hàn của Ramen Nhật Bản, tranh cãi nói trên về viec các công ty Hàn Quốc sử dụng từ Ramen trên sản phẩm của họ cho thấy nguời Hàn Quốc không thoải 당신은 아무것도 할 수 없습니다.

Dù đùợc gọi lamen 건초라면, mức độ phổ biến của mì ăn liền Hàn Quốc vẫn đang tăng lên, có lẽ nhờ sự thành công bùng nổ của nộ i dung văn hóa đại chúng Hàn Quốc nhù “Ký sinh trùng”.

Xuất khẩu mì ăn liền từ tháng 1 đến tháng 6 năm nay đã tăng 19,9% so với cùng kỳ năm truac lên 383,4 triu USD, mức cao chua từng có trong nử 아직은. Con số hàng năm cho năm 2021 cũng là mức cao nhất mọi thời đại. Những nguaời tiêu thụ mì gói hàng đầu của Hàn Quốc là Trung Quốc và Mỹ, theo sau – trớ trêu thay – là Nhật Bản.

응모: koreaherald.com

Dịch bởi Tèobokki

Tự tay làm bánh Yakgwa giòn thơm, đậm vị mật ong

bánh mật ong Hàn Quốc Yakgwa
Khám phá cách làm bánh mật ong Yakgwa – món bánh truyền thống Hàn Quốc có tuổi đời hơn 1.000 năm. Những chiếc bánh nhỏ xinh được chiên vàng giòn, ngấm siro mật ong ngọt dịu, thơm mùi dầu mè, gừng và quế. Chỉ với vài nguyên liệu đơn giản và một chút khéo tay, bạn có thể tự làm món bánh Yakgwa tại nhà để thưởng thức cùng trà hoặc chiêu đãi gia đình trong những dịp đặc biệt.
정말이에요

Mực khô xé sợi trộn sốt cay (Ojingeochae muchim)

mực khô xé sợi trộn sốt cay
Ojingeochae muchim (mực khô xé trộn sốt cay) là món ăn kèm phổ biến trong ẩm thực Hàn Quốc. Những sợi mực khô xé mềm dẻo, thấm đều sốt đỏ cay ngọt, thơm mùi mè rang. Món này thường được ăn kèm cơm trắng, vừa đơn giản, tiện lợi lại cực kỳ bắt vị trong các bữa cơm gia đình hay hộp cơm trưa.
정말이에요

Cách làm ớt xanh ngâm tương Hàn Quốc: Món ăn kèm cho mọi bữa cơm

Ớt xanh ngâm tương (Gochujang ajji) là một món dưa ớt Hàn Quốc, trong đó ớt sừng xanh được ngâm với hỗn hợp nước tương, giấm, và các gia vị khác. Món này có hương vị cay nhẹ, chua ngọt hài hòa, cực kỳ kích thích vị giác. Người Hàn Quốc thường dùng gochujang ajji như một món ăn kèm cho các bữa cơm, đặc biệt là khi ăn cùng các món nướng như galbi (sườn nướng) hay samgyeopsal (ba chỉ nướng). Với độ cay vừa phải và vị giòn, món ăn này dễ dàng trở thành món "gây nghiện" trong bất kỳ bữa tiệc nào.

정말이에요