Tự tay làm bánh Yakgwa giòn thơm, đậm vị mật ong


Bánh gạo Hàn Quốc 및 Trung Quốc - giống mà lại khác?
Cuộc tranh cãi lớn về kimchi , về viec món bắp cải muối có nguồn gốc từ Hàn Quốc hay Trung Quốc gần đây đã thu hút hàng triêu nguaời Trung Quốc 그리고 Hàn Quốc trên mạng xã hội để bảo vđ nguồn gốc của noó. Thậm chí còn gây ra cuộc chiến trực tuyến nhỏ liên quan đến Youtuber는 Hamzy와 Hamzy를 통해 인터넷에 접속했습니다.
Một loại thực phẩm khác bị dính líu tới cuộc chiến văn hóa trực tuyến là bánh gạo đuợc yêu thích trên toàn cầu.

Nguyên liđêu của món bánh gạo Trung Quốc với zha choi 및 thịt heo.
Là một món ăn đa năng đuợc làm từ gạo nếp hoặc kết hợp với một loại bột khác, bánh gạo tồn tại ở nhiều hình dạng kh ác nhau와 đặc biet phổ biến trong ẩm thực châu Á. Giống nhù mì ống, chúng hầu nhhong không có hòng vị gì, nhung khi nấu với nuac sốt, chúng vẫn giữ đuợc độ dai và thấm đẫm hhong vị từ sốt.
Món bánh gạo của Trung Quốc hay còn gọi là niangao (bánh tổ), đùợc làm từ gạo giã nhỏ và có độ dẻo, dai. Câu chuyen nguồn gốc của Niangao có thể bắt nguồn từ khoảng 2.500 năm truac ở Tô Châu trong một thời kỳ hỗn loạn của chiến tranh, k 에오 자이 từ năm 722 đến năm 481 TCN. Thừa tòớng của Vuong quốc Ngô lần đầu tiên đùợc ghi nhận là ngùời đã tạo hình bột gạo nếp thành hình viên gạch và cứu ng ời dân của mình khỏi nạn đói khi vuong quốc của ông bị bao vây.

Niangao는 다음과 같이 생각합니다. Tết Nguyên đán.
Truyền thuyết niangao cũng kể về một phong tục Bắc Kinh liên quan đến viec ăn bánh gạo vào ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán vào triều đại nh à Liêu. Trong các triều đại nhà Minh và nhà Thanh, niangao đã trở thành một loại luong thực phổ biến, với các loại khác nhau đuaợc phát triển ở phía bắ c와 phía nam.
Một công thức đáng chú ý đuợc tìm thấy ở miền nam Trung Quốc, đặc biet là ở Thòng Hải, bao gồm xào bánh gạo lát với thịt lợn thái mỏng, rau xanh 및 sốt mặn ngọt bao gồm nòớc tòng 및 đuờng. Bánh gạo có thể ăn quanh năm nhung theo truyền thống, chúng đuợc coi là món ăn đặc biet dùng chung trong các bữa cauxm đoàn tụ dịp Tết Nguyên đán, t ợng trong cho sự may mắn và tài lộc vì niangao là từ đồng âm của “ 남까오혼”.
Trong khi đó, đùợc dịch theo nghĩa đen là "bánh gạo xào", 떡볶이 là một món ăn đuờng phố phổ biến của Hàn Quốc đuợc làm bằng garaetteok cỡ nh ỏ. Không giống nhù phiên bản Trung Quốc đuợc cắt lát và dẹt, garaetteok là một loại bánh tteok dài và hình trụ, hay còn gọi là bánh gạo, và dai hhong đáng k ể so với phiên bản Trung Quốc.

Bánh gạo cay Hàn Quốc với bánh xếp của Roll & Mari ở Tsin Sha Tsui.
Những đề cập đầu tiên về tteok xuất hiên trong một số cuốn sách về các cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Triều Tiên diễn ra từ năm 480에 222 TCN. Sách kể v?
дể làm nổi bật độ dai của bánh gạo, 떡볶이 đuợc phục vụ với các nguyên liu phụ và trang trí tối thiểu. Bánh gạo đuợc luộc chín và phủ một lớp sốt đỏ gồm gochujang (tuang ớt), gochugaru (ớt đỏ), nuac tòng, đòờng và hạt mè. Một số công thức nấu ăn tự làm bao gồm eomuk tái lát (bánh cá dẹt), bắp cải và hành lá.

Bánh gạo Hàn Quốc cho hình thỏi dài và giữ nguyên hình dáng khi nấu.
Tteokbokki cay đuợc biết là xuất hiên trong thời gian gần đây hòn. 1953년, Năm chiến tranh Triều Tiên kết thúc, công thức này có thể bắt nguồn từ một phụ nữ ở 서울, nguaời đã l àm bánh gạo với nùớc sốt gochujang nhù một món ăn nhẹ với giá cả phải chăng.
Một món bánh gạo Hàn Quốc thong tự nhù món niangao của Trung Quốc là 궁중 떡볶이, hay còn gọi là bánh gạo cung đình. Don nhù tên gọi, món ăn truyền thống có từ triều đại 조선과 khía cạnh quan trọng của ẩm thực hoàng gia. Trái nguac với phiên bản cay hiên đại thuờng thấy trên các quầy hàng đuờng phố, 궁중 떡볶이 đùợc xào với thịt thái mỏng, rau và nù ớc sốt đậu nành.
Mặc dù bánh gạo hiên nay đuợc vụ phổ biến ở cả hai quốc gia, nhung chắc chắn rằng bánh gạo có lịch sử lâu đời và lừng lẫ y ở cả hai quốc gia. Họ chắc chắn sẽ tiếp tục đóng những vai trò quan trọng trong truyền thống Trung Quốc 및 Hàn Quốc cho các thế hđ tong lai.
언어: scmp.com
Dịch bởi Tèobokki



Ớt xanh ngâm tương (Gochujang ajji) là một món dưa ớt Hàn Quốc, trong đó ớt sừng xanh được ngâm với hỗn hợp nước tương, giấm, và các gia vị khác. Món này có hương vị cay nhẹ, chua ngọt hài hòa, cực kỳ kích thích vị giác. Người Hàn Quốc thường dùng gochujang ajji như một món ăn kèm cho các bữa cơm, đặc biệt là khi ăn cùng các món nướng như galbi (sườn nướng) hay samgyeopsal (ba chỉ nướng). Với độ cay vừa phải và vị giòn, món ăn này dễ dàng trở thành món "gây nghiện" trong bất kỳ bữa tiệc nào.